Tuổi thai tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối (LMP). Vì vậy ở “tuần 1–2” thực ra trứng chưa thụ tinh, đây là cách tính chuẩn quốc tế.
Thuật ngữ
Thuật ngữ y khoa thai kỳ
Giải thích các thuật ngữ và viết tắt thường gặp trong sổ khám thai và tài liệu y khoa, bằng tiếng Việt dễ hiểu.
Ngày sinh ước tính, thường = LMP + 280 ngày (40 tuần). Siêu âm sớm trước 24 tuần giúp xác định EDD chính xác hơn.
Độ dày lớp dịch sau gáy thai nhi, đo bằng siêu âm trong 11–13 tuần 6 ngày để sàng lọc nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể.
Xét nghiệm máu mẹ đo 2 chất (PAPP-A, free β-hCG) kết hợp với NT để sàng lọc T21, T18, T13 trong cửa sổ 11–13 tuần 6 ngày.
Xét nghiệm máu mẹ đo AFP, hCG, uE3 trong tuần 15–20 — phương án sàng lọc khi đã bỏ qua Double test.
Nghiệm pháp uống 75g đường, đo đường huyết lúc đói, sau 1 giờ và 2 giờ. Thực hiện trong tuần 24–28 để tầm soát đái tháo đường thai kỳ.
Bệnh lý của thai kỳ với tăng huyết áp (≥140/90 mmHg) sau 20 tuần kèm tổn thương cơ quan (đạm niệu, men gan tăng…). Có thể tiến triển nặng và cần xử trí ngay.
≥160/110 mmHg đo trên người mang thai sau 20 tuần — cần cấp cứu sản khoa.
Vi khuẩn có thể có ở âm đạo/trực tràng. Tầm soát thường ở tuần 35–37 và dự phòng kháng sinh khi chuyển dạ nếu dương tính.
Theo dõi tim thai và cơn co tử cung không kích thích, đánh giá sức khỏe bé. Thường thực hiện từ 36 tuần hoặc khi có chỉ định.
Vỡ ối trước khi chuyển dạ. Nếu xảy ra trước 37 tuần gọi là ối vỡ non non tháng (PPROM) — cần nhập viện theo dõi.
Cảm giác bé đạp, xoay. Từ 28 tuần trở đi nên đếm cử động hằng ngày. Giảm cử động đột ngột là dấu hiệu cần đi khám ngay.
Vắc-xin phòng uốn ván sơ sinh, tiêm trong thai kỳ theo phác đồ tùy số mũi đã có trước đó.
WHO khuyến cáo bổ sung 30–60 mg sắt nguyên tố và 400 µg acid folic mỗi ngày trong thai kỳ để giảm thiếu máu, sinh non, nhẹ cân.